Type to search

Chia sẻ

Phương Đông là một chủ đề lãng mạn có vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật thế kỷ 18, 19 của phương Tây. Trong ấn tượng của các nghệ sỹ phương Tây thời ấy, vùng đất xa xôi (bao gồm các quốc gia Hồi giáo, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản) gắn liền với huyền thoại về hậu cung, nô lệ, phi tần, những vũ nữ quyến rũ đậm chất nhục dục, những cung điện xa hoa, nguồn hương liệu phong phú và những họa tiết bản địa rực rỡ. Du ký “Voyage en Orient” của Gerard de Nerval, xuất bản năm 1851, tiểu thuyết “Salammbo” của Flaubert năm 1862, tranh của các họa sỹ Pháp Eugène Delacroix, Jean Auguste Dominique Ingres…đã khắc họa một phương Đông gợi cảm, bí ẩn và đầy mơ tưởng.

Hương liệu chính là một trong những cây cầu quan trọng nhất khiến hai nền văn hóa Đông Tây xích lại gần nhau. Hương liệu phương Đông nổi tiếng với các loại xạ hương, nhựa cây và gia vị cay nồng đã mang đến cho phương Tây (vốn đang thống trị về hương hoa và trái cây thơm ngọt) một nguồn cảm hứng mới. Quan trọng hơn, lịch sử ngàn năm trong chế tác và sử dụng hương liệu của Ai Cập, Ả Rập, Ba Tư (sau này được giới thiệu tỷ mỷ trong hàng loạt ấn phẩm như Morris (1999), Lê Guérer (2001, 2005), Sagarin (năm 1945) và Laruelle (1993)) đã khiến phương Tây mê mẩn. Năm 1872, thương hiệu Anh Penhaligon đã tạo ra mùi hương hoa hồng sang trọng Hamman Bouquet, được xem là một trong những chai nước hoa phương Tây đầu tiên lấy ảnh hưởng từ Phương Đông (cụ thể là Thổ Nhĩ Kỳ với truyền thống xức tinh dầu hoa hồng trên cơ thể cả đàn ông và phụ nữ). Tương truyền, nhà sáng lập của Penhaligon đã khởi nghiệp như một thợ cắt tóc trong các phòng tắm Thổ Nhĩ Kỳ sang trọng trên đường Jermyn của London và sau này ông đã tạo ra Hamman Bouquet để tặng cho một ông hoàng của xứ này. Không biết điều này có chính xác hay không nhưng từ sau sự xuất hiện của Hamman Bouquet, cảm hứng từ Trung và Viễn Đông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong nhiều kiệt tác nước hoa của phương Tây. Mà Guerlain là một ví dụ tiêu biểu.

Trước khi tạo ra kiệt tác Shalimar, Guerlain đã chạm nhẹ vào nền văn hóa Đông Phương qua hai mùi hương Jicky (1889) và Mitsouko (1919). Jicky phảng phất những dấu ấn mùi hương animalic mạnh mẽ của phương Đông với xạ hương, long diên hương và cầy hương kết hợp với những note xanh tươi mát truyền thống như cam bergamot, oải hương, hương thảo. Trong khi đó, Mitsouko không chứa bất cứ note mùi ấm, cay, ngọt nào vốn được xem là đặc tính của nhóm mùi Oriental, nhưng cái tên lại bắt nguồn từ nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết “La bataille” của Claude Farrère, kể về tình yêu khắc khoải giằng xé giữa một phụ nữ Nhật có chồng và một sĩ quan Anh trong chiến tranh Nga Nhật 1905.

Đến năm 1925, Shalimar ra đời, lấy tên theo khu vườn huyền thoại mà hoàng đế Mughal Shäh Jahängir tạo ra cho hoàng hậu Mumtaz Mahal. Jacques Guerlain đã sử dụng một liều cao ethylvanillin (có mùi vani ngọt đậm) cho Shalimar để đẩy chất nhục dục và gợi cảm lên đến tận cùng. Cháu trai của ông, Jean-Paul, cũng là một perfumer nổi tiếng đã đánh giá Shalimar như một “chiếc váy dạ hội cắt ngắn đến thái quá” để phô bày sự sexy, và mùi vani quả là một phương pháp tuyệt vời để tạo ra những sự khiêu khích nhục cảm. Chính từ Shalimar, sự kết hợp giữa vani ngọt ngào và hổ phách ấm áp đã trở thành một “món ăn” đặc sắc trong nhóm mùi Oriental. Sau Shalimar, Guerlain liên tiếp chinh phục và hoàn thiện khái niệm hương Oriental với Djedi (1926), lấy cảm hứng từ giấy cói Ai Cập, Liu (1929), được đặt tên theo nữ nhân vật chính người Trung Quốc trong vở opera Turandot của Puccini, Nahéma (1979), đề cập đến một câu chuyện Ả Rập cổ đại về hai nàng công chúa, và Samsara (1989), nghĩa là Luân Hồi trong tiếng Phạn.

Sự gợi cảm kỳ bí và lãng mạn của vùng Trung Đông và Viễn Đông cũng là nguồn cảm hứng dồi dào cho nhiều perfumer đương đại: Serge Lutens, một thiên tài sinh ra ở Pháp, cư trú tại Marocco hay Lorenzo Villoresi, perfumer người Florence đã thực hiện các chuyến du hành rộng rãi ở Ai Cập và Trung Đông.

SERGE LUTENS

Từng hợp tác với một thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng của Nhật nhưng thế giới Ả rập mới là tình yêu đích thực của Serge Lutens. Hợp tác với perfumer Christopher Sheldrake, Serge Lutens đã cho ra mắt hàng loạt tác phẩm đậm chất Ả rập từ tên gọi đến thành phần như Bois Oriental (1992), Ambre Sultan (1993), Cuir Mauresque (1996), Rahät Loukoum (1998), Muscs Koublaï Khän (1998), Arabie (2000), và Fumerie Turque (2003). Lý giải cho tình yêu của mình, Lutens nói Hồi giáo là tín ngưỡng duy nhất có liên kết trực tiếp giữa niềm vui và mùi hương. “Những tôn giáo khác có sử dụng hương thơm, nhưng họ tách biệt rõ ràng nó với niềm vui và rõ ràng hương thơm không được họ coi là một phần nội tại của cuộc sống”. (trích phỏng vấn trong Le Guérer, 2002). Điều thú vị trong các tác phẩm của Lutens là một quan điểm hoàn toàn khác biệt về phương Đông: không có sự kích thích nhục dục hay gợi cảm một cách mạnh mẽ, cũng không có những mơ tưởng lãng mạn về sự xa hoa. Cho rằng đây chỉ là sự mê hoặc phù phiếm, Lutens theo đuổi quan điểm nước hoa phải chuyển tải một cảm giác thanh tịnh và hòa hợp với thế giới, vốn được ghi lại trong văn hóa Ả Rập “Đây là tinh thần, là máu của người Ả Rập (hương thơm) chứ không đơn giản là thứ mà bạn xức lên người khi muốn cám dỗ ai đó trước khi tới khách sạn”. Dục tình, nếu xuất hiện trong các mùi hương Oriental của Lutens, sẽ chỉ là một khía cạnh chứ không phải mục đích cuối cùng.

Serge Lutens

Chất liệu gỗ đánh dấu sự khởi đầu trong cuộc hành trình hương thơm của Lutens. Trong chuyến đi đến Marrakech (Marocco) năm 1968, tại một căn phòng nhỏ ở Souk, ông đã tìm thấy một mảnh gỗ tuyết tùng, “tỏa mùi hấp dẫn và quyến rũ của một loại gỗ; rất ngọt ngào nhưng cũng phảng phất chất xạ ở trong đó”. Lutens gọi đó là giây phút hiển linh, là lúc ông biết mình cần phải tạo ra một (hoặc rất nhiều) loại nước hoa từ đó. Gỗ có mặt trong nhiều tác phẩm của Lutens, kết hợp với nhiều tinh chất quý hiếm để tạo ra những mùi hương cay nồng ấm và bất thường, đầy tính triết lý. Như Serge Lutens Arabie – một mùi hương gỗ phương Đông được phát triển bởi Christopher Sheldrake, kết hợp với những gia vị kỳ lạ và quả khô (gỗ tuyết tùng, gỗ đàn hương, kẹo vỏ quýt, sung khô, chà là, thì là, hạt nhục đậu khấu, đinh hương, nhựa thơm, đậu Tonka, Siameze benzoin và mộc dược) tạo ra một âm hưởng của sự suy đồi, những khía cạnh đen tối và từ tính đầy hấp dẫn. Arabie kể lại một câu chuyện Ả rập quyến rũ và nhắc nhở bạn về sự yên tĩnh của sa mạc. Ambre Sultan (1993) cũng được xem là một đại diện tiêu biểu cho dòng nước hoa Đông phương của Lutens. Mùi hương mạnh tràn ngập âm hưởng cay của gia vị, thảo dược, lá nguyệt quế, rau oregano và cây sim, sự ấm áp của hổ phách, nhựa cây, hoắc hương và hương gỗ mượt mà như cream, tạo ra một sự tương phản giữa ấm áp và mát mẻ, mơn trớn trên da và không thể không nhắc người ta nghĩ đến nhục dục. Cảm hứng cho Ambre Sultan không có gì huyễn hoặc, Lutens chỉ đơn giản đi dạo qua những cửa hàng đầy ắp đồ lặt vặt và những ngăn kéo gia vị cay của Marrakech, nơi hổ phách quý hiếm được bảo tồn trong những lọ bí ẩn. Và đây chính là xuất phát điểm cho một kiệt tác.

LORENZO VILLORESI

Lorenzo Villoresi, perfumer người Ý từng được nhận giải Prix François Coty vào năm 2006 (được xem như giải Oscar cho những nghệ sỹ nước hoa). Villoresi đã dành nhiều thời gian trong đời để di chuyển giữa Bắc Châu Phi và Trung Đông. Ông thực hiện nhiều chuyến đi dài vô định tới những vùng đất xa xôi của người Do Thái, Ai Cập và nền văn hóa Mesopotamic, để rồi tìm thấy “cái nôi của văn hóa nước hoa” trong những khu chợ ở Cairo và Jerusalem.

Lorenzo Villoresi

Trong khi Lutens dành tình yêu xuyên suốt với Ả rập thì Lorenzo Villoresi lấy cảm hứng từ Địa Trung Hải và Trung Đông – đồng thời hợp nhất nhiều phong cách với nhau. Piper Nigrum (1999), gợi nhớ đến các gia vị cay nồng và những kỷ niệm của Villoresi về các khu chợ ở Châu Phi. Dilmun (2000), huyền thoại về thiên đường vùng Lưỡng Hà, với những trái cây họ cam quýt nở bừng dưới ánh nắng mặt trời. Yerbamate (2001), một sự mở rộng vô tận của cỏ và hoa dại, phản ánh tình yêu thiên nhiên và không gian rộng mở của những lễ hội vùng Paragoay. Alamut (2006), một loại nước hoa phương Đông xa hoa theo phong cách đặc trưng bởi các ghi chú gợi cảm ấm áp và hoa cao quý, trên cơ sở phong phú của những note gỗ rừng kỳ lạ. Alamut gợi lên những huyền thoại của vùng Cận Đông, những pháo đài mê hoặc, những bông hoa và hương thơm của khu vườn bí mật trong câu chuyện Ngàn lẻ một đêm.

LES ORIENTALISTES CỦA ANNICK GOUTAL

Đây là bộ ba nước hoa Oriental nổi tiếng của Annick Goutal với Ambre Fétiche (hổ phách), Myrrhe Ardente (nhựa thơm cổ điển) và Encens Flamboyant (trầm hương). Ý tưởng đằng sau Les Orientalistes là những vùng đất của giấc mơ, nơi người nghệ sỹ để tâm hồn du đãng trong những ốc đảo xanh, những hậu cung xa xăm, những cuộc săn bắn kỳ thú – vùng đất phương Đông tràn ngập những màu sắc ấm áp, tương phản. Les Orientalistes được xây dựng theo phong cách Tân cổ điển với độ khuyếch tán, độ phức tạp của tầng hương và chất lượng của các thành phần được chọn lọc ở mức cao nhất như thường thấy ở những thương hiệu nước hoa lâu đời danh tiếng. Song cấu trúc thành phần lại tương đối tối giản với những chấm phá bất ngờ như chất pyrazine gợi nhắc đến mùi bánh mỳ nướng trong Ambre Fétiche. Sự cân bằng giữa các loại gia vị, gỗ và hổ phách Ambre Fétiche tạo ra một mùi hương trong suốt rất lạ lùng chứ không phải mùi hương dày, trầm đục như những hương hổ phách truyền thống.

The Adoration of the Magi hay The Epiphany là một bức tranh sơn dầu gấp ba trên tấm gỗ của nghệ sĩ người Hà Lan Hieronymus Bosch, được thực hiện vào khoảng năm 1485–1500.

Encens Flamboyant cũng tạo ra một hiệu ứng tương tự. Thay vì mùi hương ấm và đậm của khói trầm truyền thống, Encens Flamboyant lại thoáng mát và bay bổng với những âm sắc cay nhưng sáng và xanh của trầm hương tươi. Một loại nước hoa tương đối đơn giản nhưng rất hấp dẫn. Những ai yêu thích sự sang trọng cổ điển kiểu nước hoa Guerlain hay nước hoa Dioressence của Guy Robert hẳn sẽ yêu thích Myrrhe Ardente. Những note trong suốt đầu tiên được thiết lập để cân bằng với bản giao hưởng của gỗ và nhựa thơm sống động. Myrrhe Ardente hoàn toàn thích hợp với tiệc tùng, những buổi khiêu vũ –nơi người đàn bà phô bày sự cám dỗ và sẵn sàng rơi vào lưới tình. Ambre Fétiche: trầm hương, labdanum, bồ đề, benzoin, iris, vani và da. Myrrhe Ardente: nhựa thơm và mộc dược, gỗ gaiac, đậu tonka và cánh kiến trắng, sáp ong. Encens Flamboyant: tinh chất trầm hương tươi, tiêu đen và hồng, thảo quả, hạt nhục đậu khấu, nhựa thơm, và lentisque.

Pocket
Tags:

You Might also Like