Type to search

Chia sẻ

Nếu như thời trang Pháp và thời trang Ý thiên về vẻ đẹp lịch lãm, sang trọng, quý phái, tinh xảo thì thời trang Anh và Nhật được biết tới với những gì được coi là độc đáo, cá tính, nổi loạn, phá cách. Đối với thời trang Mỹ, dấu ấn lại nằm ở sự tiện lợi, thoải mái, thực dụng mà vẫn phong cách, phù hợp với nhịp sống hiện đại đầy hối hả mà một trong những nguồn cảm hứng chính là thể thao.

Hình quảng cáo của John Redfern khoảng năm 1888

Đầu tiên phải bàn đến thuật ngữ “sportswear”. Thuật ngữ “sportswear” thực chất được dùng trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất thường được biết đến là “activewear”, chỉ trang phục được dùng trong các hoạt động thể thao hoặc thi đấu thể thao chuyên nghiệp (ví dụ như wetsuit dành cho các môn thể thao dưới nước; leotard dành cho thể dục dụng cụ).

Nhà sáng lập Rene Lacoste khoảng năm 1923

Trường hợp thứ hai thường được nhắc tới với chính tên gọi “sportswear”, chỉ các trang phục được mặc trong khuôn khổ các môn thể thao có khán giả như bóng chuyền, bóng rổ, hoặc các trang phục với các sắc thái thoải mái thường ngày đậm tính năng động. Có thể được mặc trong hoặc ngoài khuôn khổ các hoạt động thể thao (ví dụ như bộ đồ áo liền quần jumpsuit (vốn dành cho vận động viên nhảy dù, áo gió windcheater hay các thiết kế riêng lẻ như chân váy, áo phông, áo sơ mi, quần short thường được mix với nhau để tạo nên một look hoàn chỉnh).

Những dấu mốc quan trọng

Mối liên quan giữa thời trang và thể thao bắt đầu từ những năm 1870. John Redfern là couturier (nhà thiết kế thời trang cao cấp) đầu tiên chú trọng thiết kế trang phục dành cho phụ nữ khi chơi các môn thể thao như cưỡi ngựa, tennis hay bắn cung. Những thiết kế của Redfern ban đầu chỉ phục vụ một mục đích hẹp, dần dần được chính các khách hàng của ông sử dụng để mặc hàng ngày bởi tính thẩm mỹ đi đôi với tiện dụng của chúng.

BST Thu Đông 2014_2015 của Coco Chanel

Những năm đầu thế kỷ 20 chúng ta biết đến Gabrielle “Coco” Chanel, là người tiên phong trong những trang phục đơn giản, thoải mái phục vụ cho các hoạt động thể thao và giải trí. Bà đã dũng cảm xóa bỏ những yếu tố mà bà cho là “quá rườm rà nhưng không hề quyến rũ” của trang phục thời Edward trước đó (thời kỳ trị vì của vua Edward tại vương quốc Anh). Cho đến ngày nay Chanel vẫn được ngợi ca bởi tầm nhìn sâu sắc của bà trong việc liên hệ thời trang với những thay đổi và nhu cầu của xã hội. Các nhà thiết kế có cùng quan điểm với Chanel trong thời kỳ này phải kể đến Paul Poiret hay Jean Patou.

Suzanne Lenglen

Cho đến những năm 1910, phụ nữ vẫn mặc trang phục hết sức gò bó khi chơi tennis với áo khoác dài tay, vớ dài và đội mũ. Chỉ cho đến năm 1922, Suzanne Lenglen gây shock cho cả thế giới khi xuất hiện trong váy ngắn và băng đô do Jean Patou thiết kế tại giải Winbemdon thì trang phục chơi tennis của phụ nữ mới dần thay đổi và hoàn thiện như ngày nay.

Những năm 1930 cho đến suốt những năm 1950 được coi là bước ngoặt của nền công nghiệp thời trang Hoa Kỳ khi thế hệ những nhà thiết kế như Claire McCardell hay Clare Potter đã ngừng copy theo những xu hướng và phong cách mới nhất của kinh đô thời trang số một lúc bấy giờ, Paris. Họ đã phát triển định hướng thiết kế của riêng mình, đó là tập trung vào các trang phục “sportswear” với mục đích rõ ràng, mang lại sự tiện dụng cho người mặc.

Một thiết kế đậm chất preppy của Brook Brothers diễn tại Thượng Hải năm 2018

Điều này ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi bối cảnh xã hội lúc bấy giờ của nước Mỹ, nổi lên một nhánh văn hóa (subculture) gọi là “preppy”, xuất phát từ giới thượng lưu trí thức trẻ tốt nghiệp từ các trường đại học hàng dầu trong hệ thống Ivy League như Harvard, Princeton, Yale…Một trong những hình thức giải trí của tầng lớp này là xoay quanh các hoạt động thể thao như cưỡi ngựa, chơi golf, tennis, rugby, đi săn, đua thuyền, bắn cung…Đây cũng là thời kỳ mà các thương hiệu lừng danh như Lacoste hay Brooks Brothers trở nên được ưa chuộng.

BST Thu Đông 2020 của Misoni được chụp bởi Morelli Brothers

Theo gót các nhà thiết kế Mỹ, những năm 1940, 1950, các nhà thiết kế Pháp và Ý bắt đầu chú tâm tới “sportswear”. Các nhà thiết kế Ý như Missoni (bản thân ông cũng từng là một vận động viên) hay Emilio Pucci đã đạt được thành công rực rỡ về mặt doanh thu tại thị trường Hoa Kỳ khi nhạy bén kết hợp chất liệu cao cấp, nghệ thuật cắt may tinh xảo (vốn là điểm mạnh của thời trang Ý) với sự tiện dụng, thoải mái trong phong cách thiết kế của thời trang Mỹ.

Hiện tại và tương lai

Từ những năm 70 của thế kỷ trước cho đến nay, không ai có thể phủ nhận chỗ đứng của các nhà thiết kế “sportswear” với phong cách thể thao tiện dụng thoải mái và hợp mốt mang hơi thở hiện đại. Đó là những Geoffrey, Beene, Bill Blass, Perry Ellis của nước Mỹ thập niên 70, 80 hay Marc Jacobs, Calvin Klein, Donna Karan, Ralph Lauren, Tommy Hilfiger, Michael Kor của những năm cuối thế kỷ 20. Những năm đầu thế kỷ 21, chúng ta được thấy một thế hệ các nhà thiết kế trẻ đầy sáng tạo như Proeza Schouler, Derek Lam, Tess Giberson, Stella McCartney.

Trang phục năng động activewear đã dần thay đổi không chỉ dừng ở việc “may cỡ nhỏ hơn đồ của nam với số đo phụ nữ rồi chuyển màu sắc trang phục sang màu hồng” theo như nhận xét của Scott Key – Phó chủ tịch kiêm Tổng giám đốc hãng activewear Athleta. Đồ activewear cho nữ giới đã trở nên phong cách và nữ tính hơn trong thiết kế, sắc sảo hơn trong đường may và cao cấp hơn trong chất liệu. Doanh thu của các hãng activewear hàng đầu như Adidas, Nike, Puma, Under Amour, Lululemon liên tục tăng mạnh trong những năm gần đây. Theo số liệu của NDP Group Inc., trong năm 2013 doanh thu các mặt hàng activewear tăng 9% trong khi doanh thu của cả nền công nghiệp may mặc Hoa Kỳ chỉ tăng 2%.

BST Thu Đông 2014_2015 của Y-3

Một điều dễ nhận thấy nữa là trong những năm gần đây là số lượng các nhà thiết kế ký kết hợp đồng với các nhãn hàng activewear ngày càng tăng. Một trong những nhà thiết kế tiên phong trong lĩnh vực này phải kể đến Yohji Yamamoto. Sản phẩm của quá trình hợp tác giữa ông và hãng Adidas là sự ra đời của dòng thời trang Y-3 Adidas năm 2003. Chúng ta còn biết đến một số dự án lớn khác như Stella McCartney và Adidas (từ năm 2005), Philip Treacy và Umbro (2006), Rei Kawakubo và Speedo (2008). Nhà thiết kế Mỹ Tony Burch vào cuối năm 2014 cho ra đời dòng thời trang activewear tập trung vào các trang phục và phụ kiện yoga, golf hay tennis. Mary Kattrantzou cũng ký một hợp đồng cộng tác lâu dài với Adidas để cho ra đời các bộ sưu tập giầy và quần áo thể thao (2015).

Yếu tố thời trang trong activewear ngày càng được đề cao. Một điều hiếm thấy trong các kỳ thế vận hội khi lần lượt cả ba nhà thiết kế lừng danh Stella McCartney, Giorgio Armani, Ralph Lauren được chọn thiết kế trang phục cho đội tuyển Olympic quốc gia Anh, Ý và Mỹ tại Olympics 2012 tổ chức tại London.

Maria Sharapova đại diện cho thương hiệu đồng hồ Tag Heuer

Chúng ta cũng chứng kiến ngày càng nhiều các nhân vật thể thao trong vai trò gương mặt đại diện (brand ambassador) của các thương hiệu hàng đâu như Maria Sharapova (đồng hồ TAG Heuer nữ), Cristiano Ronaldo (đồng hồ TAG Heuer nam, Emporio Armani Underwear & Armani jeans), Roger Federer (Đồng hồ Rolex). Đặc biệt là David Beckham, người được biết đến với tư cách không chỉ là đại diện cho Emporio Armani Underwear mà còn góp vai trò thiết kế và đại diện cho H&M Underwear.

Vận động viên Roger Federer quảng cáo cho Rolex

Không phải ngẫu nhiên mà “Fashion Vs Sports” đã trở thành đề tài một cuộc triển lãm tại Bảo tàng nghệ thuật nổi tiếng nước Anh Victoria & Albert vào cuối năm 2008 đầu năm 2009. Hiện nay vai trò của thể thao trong đời sống hàng ngày càng được đề cao. Chơi thể thao được coi như hình thức giải trí lành mạnh và hiệu quả nhất để rèn luyện và nâng cao sức khỏe. Chính vì vậy activewear và sportswear ngày càng trở thành một phần không thể thiếu trong tủ đồ thời trang mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện đại. Đây chính là cơ hội để các doanh nhân, nhà thiết kế thời trang nắm bắt thị hiếu, nhu cầu của khách hàng để cho ra đời những mẫu thiết kế, sản phẩm mang tính cạnh tranh cao, đem lại nhiều lợi nhuận trong ngành công nghiệp thời trang vốn đầy khắc nghiệt và thách thức.

Pocket
Tags: